01/04/2005 10:29:29 AM
Tự chủ thời đại – Chương VIII. Giặc nhà Nguyên - II

(Tiếp theo kỳ trước)

Chương VIII

GIẶC NHÀ NGUYÊN
(1284 – 1288)

1. NGUYÊN CHỦ ĐỊNH KHỞI BINH PHỤC THÙ. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn phá được quân Nguyên rồi kéo quân về Tràng An, rước Thượng hoàng và Nhân Tông ra Thăng Long. Giang sơn nhà Trần lại khôi phục đâu vào đấy cả. Bọn Thoát Hoan bại trận chạy về Tàu, nghĩ khi đi thì thanh thế lừng lẫy bao nhiêu, khi về thì hao binh tổn tướng, lấy làm xấu hổ lắm. Định xin Nguyên chủ cho thêm binh mã sang đánh báo thù.

Nguyên chủ thấy bọn Thoát Hoan bại trận về, giận lắm muốn bắt chém cả, nhưng quần thần can ngăn mãi mới thôi.

Bấy giờ nhà Nguyên đang sắp sửa cất quân sang đánh Nhật Bản, bèn lập tức đình việc đi đánh Nhật Bản lại và sai đóng thêm 300 chiếc thuyền, truyền hịch cho ba tỉnh Giang Hoài, Hồ Quảng, Giang Tây tụ tập quân sĩ, định đến tháng tám thì cất quân nơi đường châu Khâm, châu Liêm sang đánh nước Nam để báo thù.

Quan tỉnh Hồ Nam là Tuyến Kha dâng sớ về can rằng: "Quân ta bại trận mới về, kẻ dấu vết chưa khỏi, người đau yếu chưa dậy, xin hãy cho quân sĩ nghỉ ngơi dưỡng sức ít lâu, rồi sẽ định kế xuất chinh".

Vua nhà Nguyên nghe lời, cho quân sĩ nghỉ vài tháng. Còn Trần Ích Tắc đã theo Thoát Hoan về Tàu, thì cho ra ở Ngạc Châu.

Nhân Tông nghe tin Nguyên triều sắp sửa cất quân sang đánh An Nam, bèn vời Hưng Đạo Vương vào hỏi rằng: "Thoát Hoan bại trận trở về, chuyến này căm tức định sang đánh báo thù, quân thế hẳn to hơn trước, ta nên dùng kế gì mà chống lại được?". Hưng Đạo Vương tâu rằng: "Nước ta xưa kia, quân dân hưởng thái bình đã lâu, không tập đến việc chiến trận, cho nên năm trước quân Nguyên vào cướp còn có kẻ trốn tránh theo hàng giặc. May nhờ có oai linh tổ tông, và thần võ của bệ hạ, đi đến đâu đánh được đến đấy, cho nên mới quét sạch được bờ cõi. Còn như bây giờ quân ta quen việc chinh chiến, mà quân nghịch thì đi xa mỏi mệt. Vả lại thấy Toa Đô, Lý Hằng, Lý Quán tử trận, tất cũng chột dạ, quân tình đã sinh nghi sợ, hẳn không dám hết sức mà đánh. Cứ như ý tôi, thì chuyến này dù có quân Nguyên sang đây, ta phá cũng dễ hơn phen trước, xin bệ hạ đừng lo".

Nhân Tông mừng rỡ, sai Hưng Đạo Vương đốc xuất các vương hầu, mộ thêm quân sĩ, sửa sang khí giới để phòng việc công thủ.

2. THOÁT HOAN SANG ĐÁNH LẦN THỨ 2. Sang mùa xuân tháng hai năm Đinh Hợi (1287) Nguyên chủ kén lấy 7 vạn quân, 500 chiếc thuyền, 6000 quân Vân Nam và 15 nghìn quân ở bốn châu ngoài bể, sai Thoát Hoan làm Đại nguyên suý, A Bát Xích làm Hành tỉnh tả thừa, Áo Lỗ Xích làm Bình chương chính sự, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp làm Tham tri chính sự, đem tất cả hơn 30 vạn quân sang đánh nước Nam, giả danh đưa Trần Ích Tắc về nước lập làm An Nam Quốc Vương. Lại sai Vạn hộ Trương Văn Hổ theo đường bể tải hơn 17[1] vạn thạch lương sang cấp cho quân sĩ.

Qua tháng 11, Thoát Hoan dẫn quân noi đường châu Khâm, châu Liêm đến châu Tư Minh, sai bọn Trương Ngọc lĩnh 2.000 quân coi việc chở lương thực, khí giới lại sai Trình Bằng Phi, Áo Lỗ Xích, mỗi người dẫn một vạn quân đi đường bộ; Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp suất lĩnh thuỷ quân đi đường bể, đều tiến sang An Nam.

Quan trấn thủ ở biên thuỳ phi báo về Thăng Long. Các quan xin tuyển thêm binh. Hưng Đạo Vương nói rằng: "Binh cốt giỏi, chứ không cốt nhiều, nếu nhiều mà không giỏi, thí dụ như Bồ Kiên có trăm vạn quân cũng không có ích gì!".

Nhân Tông sai Hưng Đạo Vương thống lĩnh các vương hầu chia quân phòng giữ các nơi.

Hưng Đạo Vương sai Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái dẫn 3 vạn quân vào giữ mặt Nghệ An; tự mình thống đại quân ra giữ mặt Quảng Yên. Một mặt sai tiền quân lên gần châu Tư Minh chia ra đóng làm ba đồn: Sa, Từ, Trúc, để chống giữ quân Nguyên; một mặt sai tướng đem quân ra giữ chặt cửa sông Đại Than[2] (thuộc Hải Dương) còn đại quân của Hưng Đạo Vương thì đóng tại núi Phù Sơn.

Quan quân tuy đóng giữ như vậy, nhưng quân Nguyên thế to lắm chống không nổi, phải rút về Vạn Kiếp; Thoát Hoan tiến lên chiếm giữ núi Phả Lại và núi Chí Linh, lập trại chống nhau với quân ta, rồi sai tướng là Trình Bằng Phi đem hai vạn binh đánh lấy đồn Vạn Kiếp, lại sai Ô Mã Nhi và A Bát Xích dẫn quân từ sông Lục Đầu đánh xuống sông Hồng Hà.

Hưng Đạo Vương rút quân về giữ Thăng Long và sai tướng rước xa giá tạm lánh về Hán Nam (?)

Nhưng sau bị bọn Ô Mã Nhi đuổi ngặt qúa, Thượng hoàng và Nhân Tông phải xuống thuyền ra bể đi vào Thanh Hoá.

Ô Mã Nhi đuổi không kịp, đem quân trở về qua Long Hưng (phủ Tiên Hưng, Thái Bình) biết ở đấy có Chiêu Lăng, là lăng tổ nhà Trần, bèn sai quân đến phá nát cả đi.

Thoát Hoan đem binh mã tiến lên vây đánh Thăng Long không được, phải rút về giữ Vạn Kiếp, Chí Linh và Phả lại. Hưng Đạo Vương cũng tiến quân lên lập trại để chống với giặc.

Nhân Tông thấy quân Nguyên đã lùi rồi bèn rước Thượng hoàng ra Bắc.

3. TRẬN VÂN ĐỒN: Trần Khánh Dư cướp lương của quân Nguyên. Quân Nguyên đóng mãi ở Vạn Kiếp lương thực sắp cạn, Thoát Hoan bèn sai Ô Mã Nhi dẫn thủy quân ra cửa bể Đại  Bàng (huyện Nghi Dương, Hải Dương) đón thuyền lương của Trương Văn Hổ. Ô Mã Nhi đem thuyền đi đến ải Vân Đồn (Vân Hải, Quảng Yên) gặp quân của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư chặn đường không cho đi.Ô Mã Nhi thúc quân đánh rát một trận, quân Khánh Dư thua bỏ chạy cả. Quân Nguyên kéo thẳng ra bể đi đón thuyền lương.

Thượng hoàng nghe tin thủy quân ở Vân Đồn bại trận, cho sứ ra bắt Khánh Dư về hỏi tội.

Khánh Dư từ khi thất trận, đang nghĩ kế phục thù, bỗng thấy sứ ra bắt, Khánh Dư tiếp sứ rồi nói rằng: “Tôi sai tướng lệnh đành xin chịu tội, nhưng xin khoan cho tôi một vài hôm, may mà tôi lập được công khác để chuộc tội chăng?”

Được mấy hôm Ô Mã Nhi ra bể gặp thuyền lương của Trương Văn Hổ, lại đem quân trở vào đi trước dẹp đường. Trương Văn Hổ đem thuyền lương theo vào sau.

Khánh Dư đồ rằng Ô Mã Nhi đã phá được quân ta, trong bụng hẳn chắc rằng không còn ai ngăn trở gì nữa, cho nên mới khinh thường đem binh thuyền đi trước. Khánh Dư bèn nhặt nhạnh thuyền bè phục quân sẵn đợi thuyền lương của Trương Văn Hổ đến thì kéo ra đánh.

Quả nhiên Trương Văn Hổ tải các thuyền lương vào cửa bể Lục Thủy Dương (phía đông nam huyện Hoành Bồ tức là vịnh Cửa Lục bây giờ). Khánh Dư đổ quân ra đánh. Văn Hổ địch không nổi, bao nhiêu thuyền lương bị quân của Khánh Dư phá cướp mất cả, và bắt được khí giới rất nhiều. Còn Trương Văn Hổ thì chạy xuống chiếc thuyền nhỏ trốn về Quỳnh Châu.

Khánh Dư thắng trận đưa thư về báo tiệp. Thượng hoàng mừng rỡ, xá tội trước không hỏi, và bảo Hưng Đạo Vương rằng: “Quân Nguyên cốt trông cậy có lương thảo, khí giới, nay đã bị ta cướp được cả rồi, thì thế nó không tràng cửu được nữa. Nhưng nó chưa biết tất còn đắc chí, vậy ta nên tha những quân bị bắt cho về báo tin với Thoát Hoan, thì quân sĩ của nó tất ngã lòng, bấy giờ phá mới dễ”.

Hưng Đạo Vương tuân lệnh, cho lũ quân Nguyên về. Từ đấy quân của Thoát Hoan xôn xao, có bụng muốn về tàu, mà lương thực một ngày một cạn.

Ô mã Nhi từ khi ở ải Vân Đồn trở về, chờ mãi không thấy thuyền lương đến, bèn đem quân đến phá trại An Hưng (thuộc Quảng Yên) rồi rút về Vạn Kiếp.

4. TRẬN BẠCH ĐẰNG GIANG: Ô Mã Nhi phải bắt. Quân Nguyên từ khi thua trận Vân Đồn, lương thảo một ngày một cạn đi, Thoát Hoan muốn cho người về Tàu cầu viện và lấy thêm lương, Hưng Đạo Vương biết ý, sai tướng lên giữ núi Kì cấp và ải Nữ Nhi ở mặt Lạng Sơn không cho người Tàu đi lại.

Các tướng thấy vậy bèn vào bàn với Thoát Hoan rằng: “Quân ta đóng ở đây, thành trì đã không có, kho tàng lại cạn cả; và bây giờ là đang lúc hết xuân sang hạ, khí trời nồng nực, mà lại những chỗ hiểm yếu đều mất cả, chi bằng hãy rút quân về, rồi sau sẽ liệu kế khác”.

Thoát Hoan thấy quân thế của Hưng Đạo Vương mạnh lắm, chưa có thể phá được, bèn nghe lời các tướng, sai Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp dẫn thủy quân theo đường sông Bạch Đằng[3] về trước. Còn mặt bộ thì sai Trình Bằng Phi, Trương Quân dẫn binh đi chặn hậu. Sửa soạn định vài hôm nữa thì rút về.

Hưng Đạo Vương biết mưu ấy, bèn sai Nguyễn Khoái dẫn binh lẻn qua đường tắt lên mé sông thượng lưu sông Bạch Đằng, kiếm gỗ đẽo nhọn bịt sắt đóng khắp giữa dòng sông, rồi phục binh chờ đến lúc nào nước thủy triều lên thì đem binh ra khiêu chiến, nhử cho thuyền giặc qua chỗ đóng cọc. Hễ lúc nào nước thủy triều xuống thì quay binh lại hết sức mà đánh. Lại sai Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Chế Nghĩa dẫn quân lên phục ở ải Nội Bàng (thuộc Lạng Sơn) chờ quân Nguyên chạy lên đến đấy thì đổ ra mà đánh.

Các tướng đi đâu đấy cả rồi. Hưng Đạo Vương tiến quân lên đánh giặc, sực nghe tin báo rằng Ô Mã Nhi đã kéo quân về đến Bạch Đằng, Hưng Đạo Vương mới hô quân sĩ, trỏ sông Hóa Giang[4] mà thề rằng: “Trận này không phá xong giặc Nguyên, thì không về đến sông này nữa!” Quân sĩ ai nấy đều xin quyết chiến, kéo một mạch đến sông Bạch Đằng.

Những chiến thuyền của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp theo dòng sông Bạch Đằng, bỗng chốc thấy tướng nhà Trần là Nguyễn Khoái dẫn chiến thuyền đến khiêu chiến. Ô Mã Nhi tức giận thúc quân xông vào đánh. Nguyễn Khoái liền quay thuyền chạy. Bấy giờ đang lúc thủy triều lên, mặt nước mênh mông, Ô Mã Nhi vô tình, thấy địch quân chạy, cứ việc thúc thuyền đuổi theo.

Nguyễn Khoái nhử quân Nguyên đi khỏi xa chỗ đóng cọc, rồi mới quay thuyền đánh vật lại. Hai bên đánh đang hăng, thì đại quân của Hưng Đạo Vương tiếp đến. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp thấy quan quân to thế lắm, mới quay thuyền chạy trở lại. Khi chạy đến khúc sông có cọc đóng thì nước thủy triều đã rút xuống, thuyền của quân Nguyên vướng mắc phải cọc, đổ nghiêng đổ ngửa, đắm vỡ mất nhiều. Quan quân thừa thắng đánh cực hăng, quân Nguyên chết như rạ, máu loang đỏ cả khúc sông. Tướng Nguyên là Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc đều bị bắt cả.

Trận Bạch Đằng Giang đánh vào tháng 3 năm Mậu Tí (1288) lấy được chiến thuyền của quân Nguyên hơn 400 chiếc và bắt được quân sĩ rất nhiều.

5. HƯNG ĐẠO VƯƠNG ĐẠI PHÁ NGUYÊN BINH. Thoát Hoan nghe tin quân thủy vỡ tan rồi, dẫn bọn Trình Bằng Phi, A Bát Xích, Áo Lỗ Xích, Trương Quân, Trương Ngọc đi đường bộ chạy về đến ải Nội Bàng, bỗng gặp quân mai phục của Phạm Ngũ Lão đổ ra đánh. Các tướng hết sức giữ gìn cho Thoát Hoan, vừa đánh vừa chạy. Trương Quân dẫn 3.000 quân đi đoạn hậu cố sức đánh lấy đường chạy, bị Phạm Ngũ Lão chém chết. Thoát Hoan chạy thoát ra được cửa ải, quân sĩ mười phần, tổn hại mất năm, sáu phần.

Bọn Thoát Hoan đang đi, bỗng lại có tin báo rằng tự cửa ải Nữ Nhi đến mãi núi Kì Cấp hơn 100 dặm, chỗ nào cũng có đồn ải. Nghe tin ấy quân sĩ đều xôn xao sợ hãi, và mé sau lại nghe tiếng ầm ầm quan quân đuổi theo đã sắp đến nơi. Thoát Hoan vội vàng sai A Bát Xích, Trương Ngọc dẫn quân đi trước mở đường, Áo Lỗ Xích đi đoạn hậu.

A Bát Xích, Trương Ngọc gặp phải quan quân chặn đường phục ở hai bên sườn núi bắn tên thuốc độc xuống như mưa. Hai tướng đều tử trận và quân sĩ thây chết nằm ngổn ngang từng đống. Còn Trình Bằng Phi hết sức giữ gìn Thoát Hoan chạy ra Đan Kỹ, qua Lộc Châu rồi đi lẻn con đường tắt về châu Tư Minh.

Áo Lỗ Xích đi sau, chạy thoát được, mới nhặt nhạnh tàn quân theo cả Thoát Hoan về Yên Kinh.

Hương Đạo Vương chuyến này thực là trừ hết quân Mông Cổ mới hội cả các tướng, dẫn quân rước xa giá Thượng hoàng và Nhân Tông về kinh sư. Khi về đến Long Hưng, Nhân Tông đem bọn tướng Nguyên bị bắt là Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc vào làm lễ hiến phù ở trước Chiêu Lăng.

Nhân thấy giang sơn lại được như cũ, Thánh Tông Thượng hoàng có làm hai câu thơ để làm kỷ niệm:

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã.
Sơn hà thiên cổ điện kim âu

Dịch nôm:

Xã tắc hai phen bon ngựa đá,
Non sông thiên cổ vững âu vàng

Về đến Thăng Long vua sai mở tiệc khao thưởng tướng sĩ, cho dân sự mở hội vui vẻ ba ngày, gọi là Thái Bình diên yến.

6. SỨ AN NAM SANG TÀU XIN HÒA. Quân nhà Nguyên sang đánh An Nam tuy thua hai ba phen thật, nhưng thế nhà Nguyên vẫn mạnh lắm, mà nước Nam ta so với nước Tàu lại là nước nhỏ mọn, cô lập một mình, không nương tựa vào đâu được, nếu cứ tranh chiến mãi thì sự thắng bại chưa biết ra thế nào, mà muôn dân lại phải lầm than, khổ sở. Vì những lẽ ấy, cho nên đến tháng Mười năm Mậu Tí (1288) vua Nhân Tông sai quan là Đỗ Thiên Thứ sang sứ nhà Nguyên, xin theo lệ cống hiến như xưa.

Nguyên chủ thấy quân mình thua mấy lần rồi, trong bụng cũng nản, cho nên cũng thuận cho thông hòa.

Tháng Hai năm Kỷ Sửu (1289), Nhân Tông sai quan đưa bọn tướng Nguyên bị bắt là Tích Lệ, Cơ Ngọc về Tàu. Còn Phàn Tiếp vì lo mà thành bệnh chết, vua sai hỏa táng, rồi cấp ngựa cho vợ con đem hài cốt về nước. Các đầu mục cũng tha cho về cả. Duy có Ô Mã Nhi giết hại nhiều người, vua căm tức vô cùng, không muốn tha về, nhưng lại ngại đường hòa hiếu, bèn dùng mưu của Hưng Đạo Vương sai người đưa đi đến giữa bể, đánh đắm thuyền cho chết đuối, mà Nguyên triều cũng không trách vào đâu được.

7. ĐỊNH CÔNG, PHẠT TỘI. Tháng Tư năm Kỷ Sửu (1289) mới định công, phạt tội. Bao nhiêu những vương hầu đi đánh giặc Nguyên có công đều được thăng trật cả, còn các tướng sĩ khác họ mà ai có công to thì cho quốc tính. Nguyễn Khoái được phong tước hầu, cho ăn lộc một làng Khoái Lộ; Phạm Ngũ Lão được thăng làm quản Thánh Dực quân.

Các chúa Mường mà có công đem dân binh ra cự giặc cũng được phong hầu.

Vua lại sai văn thần ghi chép công trạng của các tướng hợp biên làm thành quyển sách gọi là Trung hưng thực lục và lại sai thợ vẽ tranh các tướng để treo ở gác công thần.

Định công xong rồi mới xét đến tội những người hàng giặc. Khi quân Nguyên đang cường thịnh, triều thần lắm kẻ hai lòng, có giấy má đi lại với giặc. Sau giặc thua chạy về Bắc, triều đình bắt được một tráp biểu hàng của các quan. Đình thần muốn lục ra để trị tội, nhưng Thượng hoàng nghĩ rằng làm tội những đồ tiểu nhân cũng vô ích, bèn sai đem đốt cả tráp đi, cho yên lòng mọi người. Duy những người nào quả thực là hàng với giặc, thì mới trị tội; hoặc đem đày, hoặc xử tử. Vì thế bọn Trần Kiện, Trần Văn Lộng tuy đã chết rồi, nhưng con cháu bị tước họ tôn thất đổi ra là họ Mai. Còn Trần Ích Tắc, thì vua nghĩ tình cận thân không nỡ bắt bỏ họ, nhưng phải gọi là ả Trần, nghĩa là nhút nhát như đàn bà vậy.

Những quân dân thì được thứ tội cả, duy có hai làng Bàng Hà, Ba Điểm trước hết theo giặc, cả làng phải đồ làm binh lính, không khi nào được làm quan.

Thưởng công, phạt tội xong rồi, Thượng hoàng về phủ Thiên Trường, đến tháng Năm, năm  Canh Dần (1290) thì mất.

Nhân Tông sai sứ sang cáo tang và xin phong.

8. ĐỊNH CUỘC HÒA HIẾU. Tự lúc Thoát Hoan thua về, vua nhà Nguyên tuy đã thuận cho hòa hiếu, nhưng trong bụng vẫn chưa nguôi giận, ý lại muốn cất binh sang đánh báo thù. Đình thần can, xin để cho sứ sang dụ vua An Nam sang chầu xem đã, nếu không sang rồi hãy liệu. Nguyên chủ nghe lời, sai Thượng thư Trương Lập Đạo sang sứ An Nam. Nhưng vua Nhân Tông lấy cớ có tang không đi. Sai quan là Nguyễn Đại Phạp đi thay.

Nguyễn Đại Phạp sang Tàu nói năm sau vua An Nam sẽ sang chầu.

Qua năm sau Nguyên triều không thấy vua An Nam sang, lại sai Lại bộ thượng thư là Lương Tằng và Lễ bộ thượng thư là Trần Phu sang giục Nhân Tông sang chầu.

Nhân Tông không đi, sai sứ là Đào Tử Kỳ đưa đồ vật sang cống Tàu.

Nguyên triều thấy vua An Nam không sang, định khởi binh sang đánh, bèn bắt giam Tử Kỳ ở Giang Lăng, rồi sai Lưu Quốc Kiệt và các tướng sửa soạn binh lương, chọn ngày phát binh. Lại sai Trần Ích Tắc đi theo, về hội ở Tràng Sa. Nhưng lúc đang sửa soạn, thì Nguyên Thế tổ là Hốt Tất Liệt mất, Nguyên Thành Tông lên ngôi, mới bãi việc binh và cho sứ An Nam là Đào Tử Kỳ về nước.

Từ đó nhà Nguyên với nước Nam thông hòa, không có sự tranh chiến nữa.

 -------------------------------

* Chú thích:

[1] Sử cũ chép là 70 vạn thạch.

[2] Huyện Nghi Dương nay thuộc về tỉnh Kiến An.

[3] Sông Bạch Đằng bây giờ thuộc huyện Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An.

[4] Hóa Giang là một ngọn sông thuộc về sông Thái Bình, ở giáp giới tỉnh Kiến An và tỉnh Thái Bình. Nay ở đấy dân sở tại còn nhớ chỗ con voi của Hưng Đạo vương qua sông Hóa sa lầy mà chết.

(Xem tiếp kỳ sau)

 Ý kiến của bạn |   Gửi tin qua E-mail |   Bản để in
Các tin khác

Video

Khai mạc Trại hè Việt Nam 2018
Thắng cảnh bạn thích nhất?
Vịnh Hạ Long
Phong Nha - kẻ Bàng
Cát Bà
Đảo Phú Quốc
Fanxipang