05/09/2023 05:11:00 PM
Đề xuất một số bước xây dựng hệ sinh thái số Việt Nam

Phát triển kinh tế số là chìa khóa đưa đất nước thoát khỏi “bẫy” thu nhập trung bình và hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển vào năm 2045. Để tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển kinh tế số cần xây dựng một hệ sinh thái số. Xin giới thiệu ý kiến đề xuất của chuyên gia Lâm Việt Tùng về một số bước xây dựng hệ sinh thái số Việt Nam.

 Hình minh hoạ. Nguồn: wrenchinthegears.com

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã nắm bắt được những xu hướng phát triển của thế giới, coi việc phát triển kinh tế số là một trong những mục tiêu chiến lược quan trọng phát triển đất nước. Một trong những gợi ý trong bài viết “Sự phát triển của kinh tế số thế giới và cơ hội của Việt Nam” mà tôi đã viết trước đây đó là xây dựng hệ sinh thái số Việt Nam để nước ta có thể bay lên, có thể gọi là Hệ Sinh thái số Thăng Long.

Hệ sinh thái số này bao gồm các doanh nghiệp (DN) công nghệ, các trung tâm đào tạo, các cơ quan chính phủ và các tổ chức phi chính phủ, sẽ cung cấp một môi trường thuận lợi cho việc phát triển kinh tế số. Trong bài viết này, tôi muốn đưa ra một số ví dụ hệ sinh thái số thành công trên thế giới và gợi ý một số bước nên xây dựng hệ sinh thái số này như thế nào.

MỘT SỐ HỆ SINH THÁI SỐ THÀNH CÔNG TRÊN THẾ GIỚI

Thung lũng Silicon, Mỹ: Thung lũng Silicon ở California, Mỹ, được coi là một trong những hệ sinh thái công nghệ thông tin (CNTT) và số hàng đầu thế giới. Với sự hiện diện của nhiều công ty công nghệ lớn như Google, Apple, Facebook và nhiều startup khởi nghiệp, thung lũng Silicon đã tạo ra hàng trăm ngàn việc làm và ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế khu vực này.

Tel Aviv, Israel: Tel Aviv được gọi là "Dinh dưỡng cho các công ty khởi nghiệp công nghệ”. Thành phố này đã phát triển một hệ sinh thái khởi nghiệp công nghệ đa dạng và sáng tạo, với hơn 6.600 công ty khởi nghiệp (startup) đang hoạt động. Các công ty như Waze, Mobileye và Gett đã xuất hiện từ Tel Aviv. Sự hỗ trợ từ chính phủ, các trường đại học và tổ chức đầu tư cũng đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của hệ sinh thái số ở đây.

Estonia: Estonia được coi là một quốc gia tiên phong trong việc xây dựng hệ sinh thái số thành công. Với chương trình "e-Estonia", nhiều dịch vụ công (DVC) và hoạt động kinh doanh đã được đưa lên không gian trực tuyến, từ việc đăng ký kinh doanh đến bỏ phiếu trực tuyến. Quốc gia này cũng đã tạo ra một hệ thống ID số điện tử cho mỗi công dân, cho phép họ tiếp cận các DVC và tư nhân trực tuyến một cách tiện lợi. Thành công của Estonia trong việc sử dụng công nghệ số đã giúp nâng cao hiệu suất chính phủ và thu hút sự quan tâm từ các công ty công nghệ quốc tế.

Stockholm,Thụy Điển: Stockholm được xem là một trong những trung tâm CNTT và truyền thông (CNTT-TT) hàng đầu thế giới. Với sự hiện diện của các công ty như Spotify, Ericsson và King (nhà phát triển trò chơi Candy Crush), thành phố này đã trở thành điểm đến hấp dẫn cho các doanh nhân công nghệ. Thụy Điển cũng có một hệ thống giáo dục tốt và sự hỗ trợ từ chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của hệ sinh thái số.

Bangalore, Ấn Độ: Bangalore, còn được gọi là "Thung lũng Silicon của Ấn Độ", là một trong những trung tâm CNTT hàng đầu thế giới. Với sự hiện diện của các tập đoàn công nghệ như Infosys, Wipro và công ty công nghệ khởi nghiệp, thành phố này đã tạo ra hàng ngàn việc làm và thu hút nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới. Cộng đồng khởi nghiệp năng động và sự phát triển nhanh chóng của CNTT ở Bangalore đã góp phần tạo ra một hệ sinh thái số thành công.

Đây chỉ là một số ví dụ và có nhiều hệ sinh thái số thành công khác trên thế giới. Sự phát triển của hệ sinh thái số thường phụ thuộc vào sự kết hợp giữa các yếu tố như chính phủ, DN, giáo dục và hỗ trợ đầu tư.

XÂY DỰNG HỆ SINH THÁI SỐ VIỆT NAM

Việc xây dựng một hệ sinh thái số cho một quốc gia là một quá trình phức tạp và đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên liên quan. Tuy nhiên, với các bước cơ bản như đánh giá trình độ phát triển số, thiết lập kế hoạch phát triển số, phát triển các ứng dụng và nền tảng số, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN, tăng cường giáo dục và đào tạo (GD&ĐT), tăng cường quản lý và an ninh mạng và tạo một môi trường thân thiện với các dự án khởi nghiệp, quốc gia có thể phát triển một hệ sinh thái số mạnh mẽ và hiệu quả.

Tổng kết từ những ví dụ thành công ở trên, phần dưới đây sẽ phân tích một số điểm Việt Nam đã làm được và được đề xuất một số bước cơ bản để xây dựng một hệ sinh thái số cho Việt Nam:

Đánh giá trình độ phát triển số của Việt Nam: Để bắt đầu xây dựng hệ sinh thái số cho Việt Nam, cần phải đánh giá tình trạng hiện tại của trình độ phát triển số của Việt Nam. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc thu thập các chỉ số thống kê về tốc độ truy cập Internet, tỷ lệ sử dụng điện thoại di động (ĐTDĐ) và các nền tảng trực tuyến khác.

Thiết lập một kế hoạch phát triển số: Sau khi đã đánh giá được trình độ phát triển số hiện tại của Việt Nam, cần thiết lập một kế hoạch phát triển số dài hạn để định hướng cho các hoạt động phát triển số trong tương lai. Kế hoạch này cần phải bao gồm các mục tiêu cụ thể, các chiến lược phát triển số và các hoạt động cần thiết để đạt được các mục tiêu đó.

Phát triển các ứng dụng và nền tảng số: Một trong những yếu tố quan trọng của hệ sinh thái số là sự phát triển của các ứng dụng và nền tảng số để hỗ trợ cho các hoạt động phát triển số. Các ứng dụng và nền tảng này có thể bao gồm các ứng dụng di động, ứng dụng web, các trang web, hệ thống thanh toán trực tuyến, các nền tảng thương mại điện tử (TMĐT) và các nền tảng chia sẻ dữ liệu.

Tạo điều kiện thuận lợi cho các DN: Các DN có vai trò quan trọng trong việc phát triển hệ sinh thái số. Vì vậy, cần tạo ra các điều kiện thuận lợi để các DN có thể phát triển các sản phẩm và dịch vụ số. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc đưa ra các chính sách hỗ trợ, tư vấn đầu tư và cung cấp các nguồn lực khác để hỗ trợ cho các DN trong việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ số.

Tăng cường GD&ĐT: Một trong những yếu tố quan trọng của hệ sinh thái số là trình độ kỹ năng số của người dân. Vì vậy, cần tăng cường GD&ĐT cho các cá nhân để nâng cao trình độ kỹ năng số. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc cung cấp các khóa học đào tạo, tài liệu học tập và các chương trình đào tạo khác.

Tăng cường quản lý và an ninh mạng: Với sự phát triển của hệ sinh thái số, các vấn đề về quản lý và an ninh mạng cũng trở nên quan trọng hơn. Do đó, cần tăng cường các hoạt động quản lý và an ninh mạng để đảm bảo an toàn và bảo mật cho các hoạt động phát triển số.

Tạo một môi trường thân thiện với các dự án khởi nghiệp: Các dự án khởi nghiệp có thể đóng góp rất nhiều cho sự phát triển của hệ sinh thái số. Vì vậy, cần tạo ra một môi trường thân thiện với các dự án khởi nghiệp để họ có thể phát triển các sản phẩm và dịch vụ số mới.

Tiếp theo tôi muốn giải thích rõ theo các bước ở trên và đánh giá những kết quả Việt Nam đã làm:

Hiện trạng mức độ phát triển số của Việt Nam

Dưới đây là các chỉ số thống kê liên quan đến tốc độ truy cập Internet, tỷ lệ sử dụng ĐTDĐ và các nền tảng trực tuyến khác của Việt Nam:

Tốc độ truy nhập Internet (theo speedtest): Tốc độ băng rộng cố định 93,44 Mbps (tăng 27,09% so với cùng kỳ năm 2022), xếp thứ 44 và cao hơn trung bình thế giới là 80,6 Mbps; Tốc độ truy nhập Internet bang rộng di động 47,31 Mbps (tăng 28,87% so với cùng kỳ năm 2022), xếp thứ 50 và cao hơn trung bình thế giới là 42,92 Mbps).

Theo số liệu của Bộ TT&TT, thuê bao ĐTDĐ sử dụng SMP ước đạt 101 triệu thuê bao tăng 8,72% so với cùng kỳ năm 2022; Thuê bao điện thoại truyền thống 23,3 triệu thuê bao giảm 2,9 triệu thuê bao so với cùng kỳ năm 2022.

Theo kết quả khảo sát mới đây của Công ty nghiên cứu thị trường DataReportal (Singapore), Việt Nam cũng nằm trong top 10 quốc gia có lượng người dùng Facebook nhiều nhất thế giới với 66,2 triệu người dùng Việt Nam hiện có khoảng 63 triệu người dùng YouTube - qua đó xếp thứ 9 trong tốp 10 quốc gia có lượng người dùng nền tảng này thường xuyên nhất.

Theo số liệu được Visa công bố cuối tháng 5/2023, tỉ lệ người tiêu dùng Việt sử dụng thẻ trực tuyến, ví điện tử và thanh toán mã QR năm 2022 tăng trưởng so với năm 2021; 90% người tiêu dùng thực hiện các giao dịch không dùng tiền mặt trong năm 2022, nhiều hơn mức 77% của năm 2021; 85% người tiêu dùng đã sừ dụng dịch vụ giao hàng tận nhà lần đầu tiên trong thời kỳ đại dịch, cho thấy thương mại điện tử (TMĐT) sẽ tiếp tục phát triển.

Cũng theo số liệu của Bộ TT&TT, tháng 6/2023, Việt Nam có hơn 328 triệu lượt tải mới ứng dụng trên thiết bị di động, tăng 11,65% so với tháng trước và tăng 5,42% so với cùng kỳ năm 2022. Với kết quả này Việt Nam vươn lên thứ 8 trong bảng xếp hạng Top các quốc gia có lượt tải ứng dụng di động cao nhất thế giới. 07 ứng dụng duy trì số lượng tài khoản đang hoạt động trên 10 triệu là Zalo, Zing Mp3, VNEID, Báo mới, Ví Momo, MB Bank và My Viettel.

Các chỉ số trên cho thấy Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực phát triển số trong những năm gần đây. Theo báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 2023, Việt Nam hiện đang xếp thứ 67 trong số 141 nền kinh tế về chỉ số phát triển số (IDI). Đây là một bước tiến đáng kể so với năm 2017, khi Việt Nam chỉ xếp thứ 102.

Một số thành tựu đáng chú ý của Việt Nam trong lĩnh vực phát triển số bao gồm: Tăng trưởng nhanh về tỷ lệ sử dụng Internet và điện thoại thông minh (smartphone), phát triển mạnh mẽ các nền tảng TMĐT và thanh toán điện tử, ứng dụng công nghệ số trong quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công (DVC), phát triển các DN công nghệ số.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn một số hạn chế trong lĩnh vực phát triển số, bao gồm: tỷ lệ kết nối Internet và smartphone vẫn còn thấp ở một số khu vực nông thôn và miền núi, kỹ năng số của người dân còn hạn chế, cơ sở hạ tầng CNTT-TT còn chưa đồng bộ, luật pháp về phát triển số còn chưa hoàn thiện.

Thiết lập một kế hoạch phát triển số

Việt Nam đã thiết lập một kế hoạch phát triển số. Kế hoạch này được gọi là Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số (KTS-XHS) đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ ban hành vào ngày 31/3/2022. Mục tiêu của kế hoạch là phát triển KTS-XHS Việt Nam trở thành quốc gia có nền KTS phát triển nhanh và bền vững, có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực và trên thế giới, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Kế hoạch tập trung vào các nhiệm vụ sau: Hoàn thiện thể chế, chính sách; pháp luật về KTS-XHS; phát triển hạ tầng số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số; phát triển DN số và kinh tế số; phát triển nhân lực số; bảo đảm an toàn, ANM và an ninh kinh tế số.

Dựa trên các chỉ số thống kê về tốc độ truy cập Internet, tỷ lệ sử dụng ĐTDĐ và các nền tảng trực tuyến khác của Việt Nam, chúng ta có thể bổ sung kế hoạch phát triển số cho Việt Nam với các bước sau:

Nâng cao tốc độ truy cập Internet: Đầu tư vào việc xây dựng hạ tầng viễn thông và kết nối quốc tế để nâng cao tốc độ truy cập Internet cố định và di động; Khuyến khích các nhà cung cấp dịch vụ Internet cung cấp gói dịch vụ với tốc độ cao hơn và giá cả phải chăng; Xây dựng và phát triển các ứng dụng giúp tăng tốc độ truy cập Internet, chẳng hạn như mạng phân phối nội dung (Content Delivery Network - CDN) và các giải pháp tối ưu hóa nội dung.

Tăng cường sử dụng ĐTDĐ: Nhà nước cần khuyến khích các nhà cung cấp dịch vụ di động cung cấp các gói dịch vụ với chi phí phải chăng hơn, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn và miền núi; Phát triển các ứng dụng di động hữu ích và tiện lợi để thu hút người dùng sử dụng ĐTDĐ hơn, chẳng hạn như ứng dụng chăm sóc sức khoẻ (CSSK), ứng dụng học tập trực tuyến, và ứng dụng thanh toán điện tử.

Phát triển các nền tảng trực tuyến: DN cần được khuyến khích phát triển các ứng dụng trực tuyến để hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh như bán hàng trực tuyến, giáo dục trực tuyến, CSSK trực tuyến và các hoạt động văn hóa giải trí; Tạo điều kiện thuận lợi để các DN khởi nghiệp và các nhà phát triển phần mềm có thể phát triển các sản phẩm trực tuyến mới, chẳng hạn như các ứng dụng về nhận diện giọng nói, trí tuệ nhân tạo (AI) và thực tế ảo; Tăng cường quảng bá và phổ biến các sản phẩm trực tuyến trong nước và quốc tế, nhằm phát triển thị trường và tăng doanh số cho các DN.

Đào tạo và phát triển nhân lực: Đầu tư vào đào tạo và phát triển các kỹ năng số cho người lao động, từ các kỹ năng cơ bản đến các kỹ năng chuyên môn liên quan đến công nghệ số và ứng dụng trực tuyến; Tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đào tạo, các trung tâm nghiên cứu và các DN có thể hợp tác phát triển các chương trình đào tạo và giáo trình mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về nhân lực có kỹ năng số; Tăng cường việc giáo dục cộng đồng về công nghệ số và những lợi ích của nó, nhằm tạo động lực và thu hút người dân sử dụng các sản phẩm và dịch vụ số.

Bảo vệ quyền riêng tư và ANM: Tăng cường việc đảm bảo ANM và bảo vệ quyền riêng tư của người dùng, nhằm tạo độ tin cậy và độ tin tưởng cho người dân trong việc sử dụng các sản phẩm và dịch vụ số; Tăng cường quản lý và giám sát hoạt động trên mạng, đảm bảo sự an toàn và tránh các rủi ro an ninh mạng; Đào tạo và phát triển các chuyên gia về an ninh mạng và quản lý rủi ro an toàn thông tin (ATTT), nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các DN và tổ chức về an ninh mạng.

Kế hoạch phát triển số cho Việt Nam nên tập trung vào việc nâng cao tốc độ truy cập Internet, tăng cường sử dụng ĐTDĐ, phát triển các nền tảng trực tuyến, đào tạo và phát triển nhân lực, và bảo vệ quyền riêng tư và an ninh mạng. Ngoài ra, cần tạo điều kiện thuận lợi để các DN khởi nghiệp và các nhà phát triển phần mềm có thể phát triển các sản phẩm trực tuyến mới, giúp thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước.

Phát triển các ứng dụng và nền tảng số

Việt Nam đã phát triển được nhiều ứng dụng và nền tảng số, phục vụ cho nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm: (1) Chính phủ số: các ứng dụng và nền tảng số phục vụ cho việc quản lý nhà nước, cung cấp DVC trực tuyến (DVCTT), tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật; (2) Kinh tế số: các ứng dụng và nền tảng số phục vụ cho việc TMĐT, thanh toán điện tử, logistics; (3) GD&ĐT: các ứng dụng và nền tảng số phục vụ cho việc dạy và học trực tuyến, quản lý học tập; (4) Y tế: các ứng dụng và nền tảng số phục vụ cho việc khám, chữa bệnh từ xa, quản lý hồ sơ sức khỏe; (5) Nông nghiệp: các ứng dụng và nền tảng số phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp, quản lý sản xuất. (6) Du lịch: các ứng dụng và nền tảng số phục vụ cho việc quản lý du lịch, tìm kiếm thông tin du lịch.

Một số ứng dụng và nền tảng số nổi bật của Việt Nam bao gồm: Cổng DVC Quốc gia, Cổng Thông tin Chính phủ, Hệ thống thanh toán điện tử VNPay, Nền tảng học trực tuyến VNPT e-Learning, Hệ thống khám, chữa bệnh từ xa VNPT Telehealth, Nền tảng quản lý sản xuất nông nghiệp VNPT Agritech, và Nền tảng quản lý du lịch VNPT iTourism.

Để phát triển KTS cho Việt Nam, cần phải tập trung vào phát triển các ứng dụng và nền tảng số có tiềm năng và nhu cầu sử dụng cao. Các ứng dụng và nền tảng số có thể phát triển bao gồm:

TMĐT: Phát triển các nền tảng mua bán trực tuyến, các ứng dụng thanh toán trực tuyến, các hệ thống giao hàng và cung ứng hàng hóa và dịch vụ.

Giáo dục trực tuyến (e-learning): Phát triển các nền tảng giáo dục trực tuyến, các ứng dụng học tập trực tuyến và các nền tảng đào tạo trực tuyến cho các DN và tổ chức.

Y tế trực tuyến (e-health): Phát triển các nền tảng CSSK trực tuyến, các ứng dụng tư vấn sức khỏe, các hệ thống quản lý bệnh án và các hệ thống đặt lịch khám bệnh trực tuyến.

Tài chính số (fintech): Phát triển các nền tảng tài chính số, các ứng dụng quản lý tài chính cá nhân, các nền tảng cho vay và cho vay trực tuyến, và các nền tảng đầu tư trực tuyến.

Giao thông thông minh (smart mobility): Phát triển các nền tảng vận chuyển thông minh, các ứng dụng đặt xe trực tuyến, các hệ thống gọi xe tự động, và các hệ thống quản lý giao thông trực tuyến.

Đô thị thông minh (ĐTTM) (smart city): Phát triển các nền tảng quản lý ĐTTM, các hệ thống quản lý năng lượng, nước sạch và xử lý chất thải trực tuyến, và các ứng dụng giám sát môi trường trực tuyến.

Tất cả các ứng dụng và nền tảng này đều có tiềm năng phát triển lớn ở Việt Nam, đáp ứng nhu cầu của người dân và các DN. Việc phát triển các ứng dụng và nền tảng này sẽ giúp tăng tốc độ phát triển KTS của Việt Nam, cải thiện đời sống người dân và nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới.

Tạo điều kiện thuận lợi cho các DN

Một số giải pháp cụ thể mà Việt Nam đã thực hiện bao gồm: Chính phủ đã Ban hành Chiến lược quốc gia phát triển KTS-XHS đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Xây dựng hạ tầng số quốc gia, bao gồm: hạ tầng mạng lưới, hạ tầng dữ liệu, hạ tầng trung tâm dữ liệu, hạ tầng CNTT-TT; Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực số, bao gồm: đào tạo kỹ sư, kỹ thuật viên, chuyên gia về CNTT-TT; Hỗ trợ các DN chuyển đổi số (CĐS), bao gồm: cung cấp các gói hỗ trợ tài chính, tín dụng, đào tạo, tư vấn; Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các DN số, bao gồm: đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC), giảm thuế, phí.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các DN ở Việt Nam, có thể thực hiện các hoạt động sau đây:

Đẩy mạnh việc cải cách TTHC: Tạo điều kiện thuận lợi cho DN khi thực hiện các TTHC. Các thủ tục phải đơn giản, nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và chi phí cho DN.

Nâng cao chất lượng hạ tầng kinh tế và kỹ thuật số: Cải thiện chất lượng hạ tầng vật chất, đặc biệt là giao thông, điện lực, nước sạch và hệ thống viễn thông. Đồng thời, phát triển các nền tảng số, tạo điều kiện thuận lợi cho DN sử dụng CNTT để tăng cường năng suất và hiệu quả sản xuất.

Đào tạo và phát triển nhân lực chất lượng cao: Tạo điều kiện cho DN tìm kiếm và thu hút nhân tài, đào tạo và phát triển nhân lực chất lượng cao. Việc nâng cao trình độ, kỹ năng và kinh nghiệm của nhân viên sẽ giúp tăng cường năng lực cạnh tranh của DN.

Hỗ trợ tài chính: Cung cấp các chương trình hỗ trợ tài chính, bảo lãnh, vay vốn và các khoản hỗ trợ tài chính khác để giúp DN phát triển và mở rộng hoạt động kinh doanh.

Tạo môi trường kinh doanh lành mạnh: Thúc đẩy sự minh bạch, công bằng và trung thực trong các hoạt động kinh doanh, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, tạo một môi trường kinh doanh lành mạnh để DN có thể phát triển bền vững.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế: Tăng cường quan hệ hợp tác với các quốc gia và khu vực khác, mở rộng thị trường, tạo điều kiện cho DN có thể tiếp cận các thị trường mới, tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Khuyến khích sáng tạo và khởi nghiệp: Tạo ra các chính sách khuyến khích sáng tạo và khởi nghiệp, hỗ trợ các DN mới bắt đầu và các nhà sáng lập khởi nghiệp. Các chương trình đào tạo, tài trợ và kết nối cộng đồng cũng có thể giúp thúc đẩy sự phát triển của các DN khởi nghiệp.

Tăng cường quản lý và giám sát: Nâng cao khả năng quản lý và giám sát hoạt động kinh doanh của DN, đảm bảo tuân thủ pháp luật và các quy định của chính phủ. Điều này cũng sẽ giúp tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh và đáng tin cậy cho các DN.

Tạo sự tham gia của các bên liên quan: Tạo sự tham gia của các bên liên quan, bao gồm chính phủ, DN, cộng đồng và các tổ chức xã hội. Việc hợp tác và liên kết giữa các bên sẽ giúp tạo ra một môi trường kinh doanh tốt hơn và thúc đẩy sự phát triển của các DN.

Tạo điều kiện thuận lợi cho các DN ở Việt Nam là một quá trình phức tạp và đòi hỏi sự hợp tác và nỗ lực của nhiều bên. Tuy nhiên, việc thực hiện các hoạt động trên sẽ giúp tạo ra một môi trường kinh doanh tốt hơn, tăng cường năng lực cạnh tranh của các DN và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước.

Tăng cường GD&ĐT

Một trong những yếu tố quan trọng của hệ sinh thái số là trình độ kỹ năng số của người dân. Vì vậy, cần tăng cường GD&ĐT cho các cá nhân để nâng cao trình độ kỹ năng số.

Việt Nam đã thực hiện một số giải pháp bao gồm: Chính phủ đã ban hành Chương trình phát triển KTS-XHS đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó có mục tiêu phát triển nguồn nhân lực số; Xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo về KTS cho các cấp học từ phổ thông đến ĐH và sau ĐH; Đẩy mạnh ứng dụng CNTT-TT trong giáo dục; Tạo môi trường thuận lợi cho các DN tham gia vào GD&ĐT, thông qua việc hỗ trợ tài chính, cung cấp các cơ sở vật chất.

Các giải pháp này đã góp phần tăng cường GD&ĐT về kinh tế số, tạo ra nguồn nhân lực có kỹ năng số đáp ứng yêu cầu của nền KTS, góp phần thúc đẩy KTS-XHS phát triển.

Để tăng cường GD&ĐT để phát triển hệ sinh thái số, có thể áp dụng các biện pháp sau:

Xây dựng các chương trình đào tạo chuyên sâu: Các chương trình đào tạo chuyên sâu có thể giúp đào tạo các chuyên gia và nhân viên kỹ thuật về các lĩnh vực kỹ thuật số như trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu, an ninh mạng, phát triển ứng dụng di động và nền tảng trực tuyến khác.

Phát triển các chương trình đào tạo trực tuyến: Đào tạo trực tuyến là một cách tiết kiệm chi phí và tiện lợi để cung cấp kiến thức về kỹ thuật số cho những người không thể tham gia các chương trình đào tạo truyền thống. Các chương trình này có thể được thiết kế dễ sử dụng và linh hoạt để học viên có thể tiếp cận dễ dàng.

Tăng cường hợp tác giữa DN và trường ĐH: Hợp tác giữa DN và trường ĐH có thể giúp tạo ra các chương trình đào tạo được thiết kế để đáp ứng nhu cầu thực tế của DN. Các chương trình này có thể được thiết kế để giúp sinh viên phát triển kỹ năng cần thiết để làm việc trong các ngành kỹ thuật số.

Khuyến khích việc học tập suốt đời: Việc học tập suốt đời giúp nhân viên cập nhật các kỹ năng mới nhất và theo kịp với sự phát triển của công nghệ. Để khuyến khích việc học tập suốt đời, chính phủ và các DN có thể cung cấp các khoản tài trợ và chính sách khuyến khích cho nhân viên tham gia các chương trình đào tạo và các hoạt động liên quan đến kỹ thuật số.

Xây dựng một môi trường học tập thân thiện: Môi trường học tập thân thiện là yếu tố quan trọng để thu hút và giữ chân các học viên và giảng viên. Để xây dựng một môi trường học tập thân thiện, các trường ĐH có thể đầu tư vào cơ sở vật chất, cải thiện chất lượng giảng dạy và thực hiện các hoạt động tương tác giữa giảng viên và sinh viên.

Khuyến khích sự phát triển các sáng kiến đổi mới và khởi nghiệp: Sự phát triển các sáng kiến đổi mới và khởi nghiệp trong lĩnh vực kỹ thuật số cần được khuyến khích và hỗ trợ. Chính phủ có thể thiết lập các chính sách khuyến khích và cung cấp các khoản tài trợ để hỗ trợ các DN khởi nghiệp và các dự án đổi mới trong lĩnh vực kỹ thuật số.

Thúc đẩy tư vấn sự nghiệp: Tư vấn sự nghiệp có thể giúp học viên và nhân viên phát triển kế hoạch sự nghiệp trong lĩnh vực kỹ thuật số. Chính phủ và các DN có thể đầu tư vào các chương trình tư vấn sự nghiệp để giúp người lao động tìm kiếm các cơ hội nghề nghiệp phù hợp với năng lực của mình.

Xây dựng cộng đồng học tập và trao đổi kiến thức: Cộng đồng học tập và trao đổi kiến thức là một phần không thể thiếu của hệ sinh thái số. Các trang web, diễn đàn và mạng xã hội có thể được tạo ra để giúp học viên và chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật số kết nối với nhau và trao đổi kiến thức và kinh nghiệm.

Tăng cường quản lý và ANM

Với sự phát triển của hệ sinh thái số, các vấn đề về quản lý và ANM, ATTT mạng cũng trở nên quan trọng hơn. Do đó, cần tăng cường các hoạt động quản lý và ANM, ATTT mạng để đảm bảo an toàn và bảo mật cho các hoạt động phát triển số.

Năm 2015, Quốc hội đã ban hành Luật ATTT mạng, đến 2018, ban hành tiếp Luật ANM. Cùng với đó, chính phủ đã xây dựng và triển khai các hệ thống quản lý và ANM, ATTT mạng quốc gia, bao gồm: hệ thống giám sát ANM quốc gia, hệ thống phòng chống tấn công mạng quốc gia. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc tăng cường quản lý và ANM ở Việt Nam.

Mặc dù vây, để tăng cường quản lý và ANM, ATTT mạng trong hệ sinh thái số, chính phủ và các tổ chức có thể áp dụng một số biện pháp sau:

Thực hiện các chính sách và quy định về ANM, ATTT mạng: Chính phủ cần ban hành các chính sách và quy định liên quan đến ANM, ATTT mạng để giám sát và đảm bảo an toàn cho người dùng. Các quy định này cần đảm bảo tính minh bạch và đúng đắn để không ảnh hưởng đến quyền riêng tư của người dùng.

Đào tạo nhân viên về ANM, ATTT mạng: Chính phủ, các DN và tổ chức khác cần đầu tư vào đào tạo nhân viên về ANM, ATTT mạng để nâng cao nhận thức và kỹ năng của họ về ANM, ATTT. Điều này sẽ giúp giảm thiểu các rủi ro ANM, ATTT mạng và tăng cường sự bảo vệ của hệ thống.

Thúc đẩy tinh thần trách nhiệm trong việc sử dụng mạng: Tinh thần trách nhiệm trong việc sử dụng mạng là một yếu tố quan trọng để tăng cường ANM, ATTT mạng. Người dùng cần được khuyến khích thực hiện các biện pháp an toàn khi sử dụng mạng và báo cáo các vấn đề ANM, ATTT mạng nếu có.

Sử dụng các công cụ bảo mật mạng: Chính phủ và các DN cần sử dụng các công cụ bảo mật mạng để ngăn chặn các cuộc tấn công và tăng cường ANM, ATTT mạng. Các công cụ này bao gồm phần mềm diệt virus, tường lửa mạng, phân tích mã độc và các công cụ giám sát mạng.

Hợp tác quốc tế về an ninh mạng: Hợp tác quốc tế về ANM, ATTT mạng giữa các quốc gia có thể giúp đẩy mạnh an ninh mạng toàn cầu. Chính phủ cần hợp tác với các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, NATO và các tổ chức khác để giải quyết các vấn đề ANM, ATTT mạng cấp thế giới.

Đẩy mạnh việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển các công nghệ ANM, ATTT mạng: Chính phủ và các tổ chức cần đầu tư vào nghiên cứu và phát triển các công nghệ an ninh mạng để giải quyết các vấn đề ANM, ATTT mạng phức tạp và ngày càng tiên tiến hơn.

Tăng cường giám sát và kiểm soát truy cập mạng: Các tổ chức cần tăng cường giám sát và kiểm soát truy cập mạng của nhân viên để đảm bảo rằng họ không truy cập vào các thông tin mật hoặc gây ra rủi ro an ninh mạng khác.

Hỗ trợ và khuyến khích các DN và tổ chức nâng cao đội ngũ chuyên gia an ninh mạng: Chính phủ có thể cung cấp các khoản tài trợ hoặc hỗ trợ để các DN và tổ chức có thể tuyển dụng các chuyên gia ANM, ATTT mạng có trình độ và kỹ năng cao.

Cung cấp các công cụ và dịch vụ bảo mật mạng phù hợp: Các tổ chức và doanh nghiệp có thể sử dụng các công cụ và dịch vụ bảo mật mạng như một phương tiện để tăng cường bảo vệ hệ thống và dữ liệu của mình. Tuy nhiên, các công cụ và dịch vụ này phải phù hợp với nhu cầu của tổ chức và đảm bảo tính hiệu quả và an toàn.

Tạo ra các cơ chế pháp lý về ANM, ATTT mạng: Chính phủ cần tạo ra các cơ chế pháp lý về ANM, ATTT mạng để đảm bảo tính pháp lý và đúng đắn khi xử lý các vấn đề liên quan đến ANM, ATTT mạng.

Tạo một môi trường thân thiện với các dự án khởi nghiệp

Quốc hội ban hành Luật Hỗ trợ DN nhỏ và vừa năm 2017, là một bước tiến quan trọng trong việc tạo môi trường thuận lợi cho các DN nhỏ và vừa phát triển, bao gồm cả các DN khởi nghiệp.

Chính phủ cũng đã xây dựng và triển khai nhiều chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, bao gồm: chương trình ươm tạo DN khởi nghiệp, chương trình đào tạo khởi nghiệp, chương trình cung cấp vốn cho DN khởi nghiệp. Chính phủ đã tạo môi trường thuận lợi cho các DN khởi nghiệp phát triển, bao gồm: đơn giản hóa TTHC, giảm thuế, và chi phí. Các giải pháp tạo môi trường thân thiện với các dự án khởi nghiệp của Việt Nam đã góp phần thúc đẩy phong trào khởi nghiệp ở Việt Nam, giúp Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có môi trường khởi nghiệp tốt nhất trong khu vực Đông Nam Á.

Để tạo một môi trường thân thiện với các dự án khởi nghiệp trong hệ sinh thái số, thiết có thể thực hiện các hoạt động sau:

Cải thiện hệ thống đào tạo và tư vấn: Cần cải thiện hệ thống đào tạo và tư vấn để giúp các nhà sáng lập khởi nghiệp tiếp cận với kiến thức và kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp, marketing, kế toán, phát triển sản phẩm, thu thập vốn và các kỹ năng quản lý khác. Ngoài ra, cần tạo ra các cơ hội để các nhà sáng lập có thể gặp gỡ nhau, chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau.

Tạo điều kiện cho việc khởi nghiệp: Cần tạo ra các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp và cung cấp các nguồn tài nguyên để giúp các nhà sáng lập khởi nghiệp dễ dàng tiếp cận với các nguồn lực và tiếp cận thị trường. Các chính sách này có thể bao gồm các khoản tài trợ khởi nghiệp, giảm thuế và giảm phí cho các DN khởi nghiệp, hỗ trợ đăng ký sáng chế và quyền tác giả.

Xây dựng một mạng lưới kết nối đầy đủ: Cần xây dựng một mạng lưới đầy đủ về các nhà đầu tư, các công ty đầu tư mạo hiểm, các chuyên gia trong lĩnh vực kinh doanh và công nghệ để giúp các nhà sáng lập khởi nghiệp có thể tìm kiếm được các nguồn tài trợ và chia sẻ kinh nghiệm.

Tạo sự động viên và khích lệ: Cần tạo ra một môi trường động viên và khích lệ các nhà sáng lập khởi nghiệp để họ có động lực để tiếp tục phát triển công việc của mình. Việc tạo ra các sự kiện như hội thảo, buổi nói chuyện và các chương trình khuyến khích khởi nghiệp có thể giúp các nhà sáng lập cảm thấy được sự ủng hộ và sự quan tâm của cộng đồng.

Để tạo một môi trường thân thiện với các dự án khởi nghiệp trong hệ sinh thái số, cần thực hiện những việc sau:

Hỗ trợ tài chính: Các dự án khởi nghiệp cần có nguồn tài chính đủ để phát triển và tăng trưởng. Chính phủ cần cung cấp các chương trình hỗ trợ tài chính như vay vốn, tài trợ và đầu tư.

Thiết lập hệ thống hỗ trợ:Hệ thống hỗ trợ, chẳng hạn như các trung tâm khởi nghiệp và các chương trình đào tạo, giúp các nhà khởi nghiệp đạt được mục tiêu của mình. Chính phủ cần đầu tư vào các trung tâm khởi nghiệp và các chương trình đào tạo để hỗ trợ các dự án khởi nghiệp trong hệ sinh thái số.

Tạo điều kiện cho khởi nghiệp: Chính phủ cần tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khởi nghiệp bằng cách đơn giản hóa quy trình đăng ký DN, cải thiện môi trường kinh doanh và tạo ra các chính sách khuyến khích đầu tư.

Tạo ra một môi trường thử nghiệm an toàn: Các dự án khởi nghiệp cần thử nghiệm trước khi tung ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Chính phủ cần cung cấp một môi trường thử nghiệm an toàn để các nhà khởi nghiệp có thể kiểm tra sản phẩm hoặc dịch vụ của họ.

Khuyến khích đổi mới: Chính phủ cần khuyến khích các nhà khởi nghiệp đổi mới bằng cách cung cấp các chính sách hỗ trợ như bảo hộ sáng chế, quyền tác giả và giải pháp pháp lý khác. Chính phủ cũng cần thúc đẩy việc sử dụng các công nghệ mới trong hệ thống của mình.

KẾT LUẬN

Việc xây dựng một hệ sinh thái số cho một quốc gia là một quá trình phức tạp và đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên liên quan. Tuy nhiên, với các bước cơ bản như đánh giá trình độ phát triển số, thiết lập kế hoạch phát triển số, phát triển các ứng dụng và nền tảng số, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN, tăng cường GD&ĐT, tăng cường quản lý và an ninh mạng và tạo một môi trường thân thiện với các dự án khởi nghiệp.

Việt Nam đã nắm bắt được xu hướng phát triển của thế giới và bắt đầu khởi động những bước thành công xây dựng hệ sinh thái số nhưng cần khắc phục những hạn chế, nên chi tiết hơn, cụ thể hơn trong kế hoạch và hành động theo những bước đề nghị ở trên thành một hệ sinh thái số hoàn chỉnh và hiệu quả trong trong tương lai gần.

Hy vọng, Việt Nam sẽ phát triển hệ sinh thái số quốc gia thành công như các nước trong ví dụ kể trên, góp phần thúc đẩy kinh tế số và xã hội số phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

LÂM VIỆT TÙNG
Chuyên gia CNTT tại Hà Lan

(Bài đăng ấn phẩm in Tạp chí TT&TT số 8 tháng 8/2023)

 Ý kiến của bạn |   Gửi tin qua E-mail |   Bản để in
Tin liên quan
Các tin khác

Video

Dấu ấn Việt Nam: Bác Hồ và sự trong sáng của tiếng Việt | VTV4
Tăng cường phối hợp thực hiện công tác về người Việt Nam ở nước ngoài
Lễ hội giao lưu Việt Nam Gunma 2024 - Cùng nhau đón Tết
Hương vị Tết xưa theo tôi suốt cuộc đời
Tết ba miền giữa lòng Australia
“Tết sum vầy” của du học sinh Việt Nam tại Nga
Hội trí thức Việt Nam tại Vương quốc Anh - Cầu nối hợp tác khoa học hai nước
Xuân Quê hương 2024: Đặc sắc chương trình nghệ thuật “Thành phố Hồ Chí Minh – Viết tiếp thiên anh hùng ca ngời sáng”
Thông báo số 2 về Chương trình Xuân Quê hương 2024
Kiều bào - Nguồn lực quan trọng trong đầu tư xanh
Lan toả thương hiệu du lịch xanh, bền vững ở quê hương
Hội nghị “Phát huy nguồn lực kiều bào, kết nối địa phương và doanh nghiệp” sẽ diễn ra tại Hải Phòng
Công tác người Việt Nam ở nước ngoài: Kết luận 12 đã thực sự đi vào đời sống
Thắng cảnh bạn thích nhất?
Vịnh Hạ Long
Phong Nha - kẻ Bàng
Cát Bà
Đảo Phú Quốc
Fanxipang