Tôi muốn cho cháu tôi ở lại Việt Nam, phải làm thủ tục gì?

Xin hỏi:

1. Tôi muốn làm quốc tịch VN cho cháu thì có được không? Nếu được thì làm ở đâu, thủ tục như thế nào?

2. Muốn cho cháu ở lại VN từ 2 đến 3 năm thì tôi phải làm thủ tục gì?

Trả lời:

1. Về việc nhập quốc tịch Việt Nam cho cháu bé

Theo như chị trình bày, con gái chị vẫn còn quốc tịch Việt Nam, có nghĩa là cô ấy vẫn là công dân Việt Nam theo quy định pháp luật Việt Nam. Theo Khoản 2, Khoản 3 Điều 19 Luật quốc tịch 2008 thì con đẻ của công dân Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam và có thể vẫn được giữ quốc tịch nước ngoài.

Trong trường hợp này, con gái của chị cần thực hiện thủ tục xin nhập quốc tịch Việt Nam cho cháu bé.

Cụ thể, theo Điều 19, 20  Luật quốc tịch 2008, Điều 7 Nghị định 78, con gái chị cần chuẩn bị cho con 03 bộ hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam gồm có:

a) Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam;

b) Bản sao Giấy khai sinh, Hộ chiếu hoặc hoặc giấy tờ hợp lệ khác chứng minh quan hệ mẹ con;

c) Bản khai lý lịch;

d) Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối với thời gian cháu bé cư trú ở Việt Nam (nếu có), Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Canada cấp đối với thời gian cháu bé cư trú tại Canada. Phiếu lý lịch tư pháp phải là phiếu được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ;

Hồ sơ được nộp cho Sở Tư pháp nơi con gái chị có địa chỉ cư trú (thường trú hoặc tạm trú) tại Việt Nam. Lưu ý: với những văn bản, giấy tờ có trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp phải được hợp pháp hóa lãnh sự, các giấy tờ bằng tiếng nước ngoài phải được dịch sang tiếng Việt và chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam tuân thủ theo quy định tại Điều 21 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

2. Về việc cho cháu bé ở lại Việt Nam từ 2 đến 3 năm

Khi đã nhập quốc tịch Việt Nam cho cháu bé thì cháu bé đương nhiên là công dân Việt Nam (khoản 1 Điều 5 Luật Quốc tịch 2008). Cháu bé có thể ở lại Việt Nam từ 2 đến 3 năm để chị chăm sóc vì theo quy định tại Điều 48 của Bộ Luật Dân sự 2005, công dân Việt Nam có quyền tự do đi lại, tự do cư trú, không bị giới hạn về thời hạn cư trú tại Việt Nam.

Văn phòng Luật sư NHQuang và Cộng sự
B23, Khu Biệt thự Trung Hòa – Nhân Chính,
Thanh Xuân, Hà Nội